So sánh sản phẩm
Giỏ hàng của tôi (0)
  • Hiện chưa có sản phẩm nào trong giỏ hàng của bạn

Trạm khí tượng

* Tổng quan chung của mạng lưới trạm khí tượng

   Mạng lưới trạm khí tượng thủy văn của nước ta đã có lịch sử trên 100 năm xây dựng và phát triển, gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1867, trạm khí tượng đầu tiên được xây dựng tại Việt Nam là trạm Nhà thương Sài Gòn. Đến năm 1902, khi Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định thành lập Đài Quan sát Từ trường và Khí tượng Trung ương Đông Dương - Cơ quan quản lý mạng lưới trạm khí tượng đầu tiên tại Việt Nam, nước ta chỉ có 51 trạm (38 trạm khí tượng, 13 trạm thủy văn). Đến nay, mạng lưới trạm khí tượng thủy văn nước ta có 1269 trạm, bao gồm khí tượng bề mặt, bức xạ, đo mưa, khí tượng nông nghiệp, khí tượng cao không, thủy văn và khí tượng thủy văn biển (sau đây gọi chung là trạm khí tượng thủy văn). Các trạm này được phân bố rộng khắp trên lãnh thổ Việt Nam từ Bắc vào Nam, từ miền núi cao đến đồng bằng ven biển, các hải đảo xa xôi và quan trắc ngày càng đầy đủ các yếu tố về khí tượng thủy văn. 

  Để có được mạng lưới trạm như hiện nay, Nhà nước đã đầu tư cho nghiên cứu quy hoạch và đầu tư xây dựng mạng lưới một cách khá cơ bản và toàn diện qua các thời kỳ: Mạng lưới trạm khí tượng (1960); Mạng lưới trạm thủy văn cơ bản miền Bắc Việt Nam (1961); Mạng lưới trạm thủy văn cơ bản tối thiểu từ Nam Bình Trị Thiên trở vào (1976); Mạng lưới trạm khí tượng thủy văn cơ bản (1987); Mạng lưới trạm đo mưa cơ bản (1991); Hệ thống kiểm soát môi trường không khí và nước (1992) và Mạng lưới trạm rađa thời tiết (1998).

  Từ khi hình thành đến nay, Nha Khí tượng, Bộ Thuỷ lợi, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn (trước đây) đã tổ chức nghiên cứu ban hành quy hoạch mạng lưới trạm khí tượng thuỷ văn và xây dựng các trạm này theo những tiêu chí chung của Tổ chức Khí tượng thế giới. Đến nay, mạng lưới trạm khí tượng thủy văn nước ta đã có 177 trạm khí tượng, 14 trạm quan trắc bức xạ mặt trời, 248 trạm thủy văn, 17 trạm hải văn và 860 điểm đo mưa độc lập, phân bố rộng khắp trên lãnh thổ Việt Nam ngoài mạng lưới trạm khí tượng thuỷ văn cơ bản, hoạt động liên tục, thu thập và cung cấp một khối lượng số liệu điều tra cơ bản KTTV to lớn phục vụ cho công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai (sau đây gọi tắt là phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai), tham gia hợp tác quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

  Thực hiện Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến hành xây dựng “Quy hoạch mạng lưới trạm khí tượng thuỷ văn quốc gia đến năm 2020”. Mục tiêu của bản quy hoạch này là nghiên cứu xây dựng được mạng lưới trạm khí tượng thuỷ văn cơ bản hợp lý trên cơ sở khoa học về phân bố trạm khí tượng thuỷ văn đã được các nước tiên tiến áp dụng, phù hợp với điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, làm căn cứ cho việc xây dựng mạng lưới trạm KTTV đồng bộ, đáp ứng được các nhu cầu điều tra cơ bản, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nghiên cứu khoa học, bảo đảm quốc phòng, an ninh, dự báo phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai.

  Nước ta hiện có 185 trạm khí tượng, phân bố không đều giữa các vùng với mật độ trung bình khoảng 1.870 km2/trạm so với các nước trung bình 400 km2/trạm là còn rất thưa. Vùng phía Bắc (tính từ Đèo Hải Vân trở ra) mật độ khoảng 1.440km2/trạm, phía Nam khoảng 2.500 km2/trạm, khu vực đồng bằng (chủ yếu là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ) có những trạm chỉ cách nhau khoảng 20 km, trong khi miền núi, nhất là vùng núi cao như Tây Nguyên mật độ khoảng 3.116km2/trạm. Tây Bắc khoảng 1634km2/trạm. Dọc theo ven biển dài 3.260km chỉ có 30 trạm khí tượng bề mặt, có nơi khoảng 100 km mới có một trạm. Tổng toàn quốc: hạng I có 59 trạm; hạng II: 76 trạm; hạng III: 50 trạm; tổng cộng: 185 danh sách như trong bảng 1, trong đó có 8 trạm quan trắc khí tượng. Mạng lưới trạm quan trắc bức xạ mặt trời hiện có 14 trạm không phân theo hạng, danh sách trong bảng 5. Mạng lưới trạm quan trắc khí tượng nông nghiệp hiện có 27 trạm trong đó có 15 trạm cơ bản và 12 trạm quan trắc phổ thông, Danh sách trong bảng 4.

  Trạm khí tượng thủ công truyền thống : 180 trạm + 13 trạm tự động =185

  Trạm khí tượng tự động có : 35 trạm trong đó có 13 trạm nằm ngoài trạm thủ công (Cù Lao Chàm, Dung Quất, Phù Mỹ, Sông Cầu, Tà Lài, Bến Tre, Thủ Dầu Một, Vị Thanh, DK1-14, Vĩnh Long, Mai Sơn, Cát Bà, Ba Lạt) và 35 trạm nằm cùng với trạm đo thủ công. Mạng lưới trạm đo tự động được đầu tư theo các dự án sau : Dự án ODA Ý giai đoạn I là 17 trạm tại Đài KTTVKV Trung Trung Bộ ; Dự án ODA Ý Giai đoạn II trang bị 13 trạm tại Đài KTTVKV Nam Trung Bộ ; Dự án WB 4 trang bị 12 trạm tại Đài KTTVKV Nam Bộ ; Dự án thử nghiệm máy đo tự động trang bị 3 trạm tại Đài KTTV KV Đồng Bằng Bắc Bộ.

  Mạng lưới điểm đo mưa hiện có 860 điểm đo theo quy hoạch đến năm 2020 sẽ có 1000 điểm đo, từ khi Quy hoạch ban hành đến nay đã phát triển thêm 453 điểm đo. Thiết bị đo mưa hiện có 414 điểm đo là các thiết bị đo thủ công truyền thống, 475 điểm đo mưa tự động. Hệ thống điểm đo mưa gồm 1269 vị trí, trong đó có 409 điểm nằm ngay trong các trạm khí tượng thủy văn và 860 điểm nằm ngoài các trạm khí tượng thủy văn (danh sách các điểm đo trong bảng 3 kèm theo). Mật độ trung bình của các điểm đo mưa vào khoảng 260 km2/điểm, phân bố không đều giữa các vùng trong cả nước. ở đồng bằng Bắc Bộ khoảng 120km2/điểm, miền núi cao phía bắc và Tây Nguyên khoảng 300 km2/điểm.

  Tổng số có 1323 điểm đo mưa trong đó : +15 trạm nghìn năm Thăng Long = Tổng 1338

- 414 điểm đo mưa thủ công (đo mưa nhân dân)

-193 điểm đo mưa tại các trạm khí tượng

- 232 điểm đo mưa tại các trạm thủy văn thủ công

- Dự án ODA Ý giai đoạn I trang bị 15 điểm đo mưa tự động và 42 điểm đo mưa cùng mực nước tự động cho Đài KTTVKV Trung Trung Bộ.

- Dự án ODA Ý giai đoạn II trang bị 83 điểm đo mưa tự động và 17 điểm đo mưa cùng mực nước tự động.

- 29 trạm phát vệ tinh

- Dự án WB4 trang bị 89 trạm đo mưa cùng mực nước tự động cho Đài KTTVKV Nam Bộ.

- Dự án đo mưa đo mặn trang bị 338 điểm đo mưa tự động cho các Đài KTTVKV. (Thiếu 15 trạm thuộc dự án cấp bách nghìn năm Thăng Long)

  Mưa thay đổi rất mạnh theo không gian nên mật độ điểm đo mưa hiện tại là quá thưa. Mặt khác, có sự khác biệt khá lớn về mật độ phân bố các điểm đo mưa giữa các vùng trong cả nước, khá dày ở đồng bằng ven biển, khá thưa ở vùng núi cao và Tây Nguyên. Đối với vùng núi cao, nơi có địa hình biến đổi mạnh mẽ, nơi đầu nguồn các hệ thống sông suối, mạng lưới điểm đo mưa chưa đủ dày để đáp ứng nhu cầu phục vụ công tác dự báo, nhất là cho công tác cảnh báo lũ quét, cho ứng dụng các mô hình tính toán thuỷ văn, ứng phó với biến đổi khí hậu cũng như cho công tác quy hoạch phát triển của các địa phương trong khu vực.

  Như vậy, mạng lưới quan trắc khí tượng hiện còn thiếu về số lượng và phân bố chưa thực sự hợp lý theo lãnh thổ, theo các vùng khí hậu và các vùng sinh thái.

*  Các yếu tố và hạng mục quan trắc

Phân hạng trạm tượng bề mặt

1) Hạng I

- Quan trắc tất cả các yếu tố khí tượng;

- Phát báo trong nước 4-8 lần/ngày; một số trạm phát phát báo quốc tế khi có chỉ định;

- Là trạm chuẩn trong quá trình chỉnh lý số liệu cho một khu vực lớn hoặc nhỏ;

- Duy trì hoạt động quan trắc lâu dài, ổn định.

2) Hạng II

- Quan trắc hầu hết các yếu tố khí tượng;

- Phát báo trong nước 4-8 lần/ngày; một số trạm phát phát báo quốc tế khi có chỉ định;

- Duy trì hoạt động quan trắc lâu dài, ổn định.

3) Hạng III

- Quan trắc hầu  hết các yếu tố khí tượng, trừ khí áp;

- Không phát báo quốc tế; phát báo trong nước khi có chỉ định;

- Không chỉ định cụ thể về thời gian duy trì quan trắc.

4) Hạng IV: Quan trắc một số yếu tố khí tượng nhưng chủ yếu là đo mưa.

Trạm khí tượng bề mặt hạng IV được thiết lập trên cơ sở các trạm đo mưa hiện tại.. Về cơ bản và lâu dài, các trạm hạng IV không cần biên chế và từng bước được trang bị thiết bị đo tự động.

Các yếu tố quan trắc:

a) Khí tượng bề mặt

+ áp suất khí quyển: Hectopascal (hPa)

+ Nhiệt độ không khí , nhiệt độ mặt đất và các lớp đất sâu: Celcius (0C)

+ Tốc độ gió bề mặt và trên cao: mét/s

+ Hướng gió: Tính bằng độ la bàn tính từ hướng bắc theo 36 hướng.

+ ẩm độ: tính %

+ Giáng thuỷ: tính bằng mm

+ Bốc hơi: tính bằng mm

+ Tầm nhìn ngang tính bằng m và km

+ Bức xạ tổng quan: tính bằng W/m2 và J/m2

+ Số giờ nắng tính bằng giờ

+ Độ cao chân mây: tính bằng m

+ Lượng mây tính bằng 1/10 phần bầu trời mây che phủ

+ Độ cao địa thế vị sử dụng trong quan trắc trên cao được tính bằng mét địa thế vị

b) Bức xạ

Quan trắc các yếu tố: bức xạ tổng quan, bức xạ trực tiếp, bức xạ khuyếch tán, bức xạ phản chiếu, bức xạ hồng ngoại tổng quan và phản chiếu, bức xạ thực.

c) Trạm khí tượng nông nghiệp (KTNN)

+ Các trạm khí tượng nông nghiệp vùng sinh thái

- Triển khai các thực nghiệm khí tượng nông nghiệp;

- Quan trắc các yếu tố khí tượng nông nghiệp cơ bản về cây trồng, vật nuôi đại diện cho vùng;

- Phát báo điện khí tượng nông nghiệp tuần.

+ Các trạm điều tra cơ bản và khảo sát khí tượng nông nghiệp

- Quan trắc, điều tra, khảo sát định kỳ và không định kỳ các yếu tố khí tượng nông nghiệp chủ yếu là vật hậu và năng suất cây trồng với 1-3 cây trồng chính) đại diện cho tỉnh hay địa phương nơi đặt trạm; khảo sát mức độ ảnh hưởng của sâu bệnh, thiên tai khí hậu ở các vùng thuộc pham vị trạm theo dõi.

- Phát báo điện khí tượng nông nghiệp tuần.
Tags:,